PDA

View Full Version : Phân Loại Các Bài Bản cải Lương


phunghoang12cn
15-02-2009, 09:44 PM
1. Nhứt Lý
Các điệu Lý, xuất xứ từ dân ca, được cải lương hóa, thường dùng để hát đệm trong bài Vọng Cổ hoặc trong các tuồng cải lương. Những bài hay được dùng nhiều nhất là :
Lý Con Sáo
Lý Ngựa Ô (Nam và Bắc)
Lý Thập Tình
Lý Giao Duyên
Lý Vọng Phu
Lý Chiều Chiều
Lý Cái Mơn
Lý Huế
Trong các điệu Lý, như Lý Ngựa Ô, có ngựa ô Nam và ngựa ô Bắc. Lý Con Sáo và Lý Thập Tình có hơi Xuân và hơi Ai. Đờn hơi Bắc và hơi Xuân thì vui, đờn hơi Nam và hơi Ai thì buồn. Các điệu Lý khác phần nhiều đờn
hơi Nam.

2. Nhì Ngâm
Gồm có ngâm thơ, ngâm sa mạc, ngâm Kiều , và nhiều điệu ngâm khác. Có người ngâm theo điệu Bắc, có người ngâm theo điệu Huế nhưng đa số ngâm theo điệu Sài Gòn (tùy theo sở trường và khả năng của mỗi người).


3. Tam Nam
Gồm ba bài Nam:
Nam Xuân : điệu nhạc thanh thản lâng lâng, sảng khoái, nghiêm trang, nhẹ nhàng, có người cho là "tiên phong đạo cốt". Bài này được dùng để mở đầu các chương trình ca nhạc cải lương ở Sài Gòn.
Nam Ai : buồn ảo não, não nùng, bi thảm. Bài này có 8 lớp, cấu trúc cũng như Nam Xuân (cũng nhắc đi nhắc lại nhiều lớp). Lớp 7 và 8 (hai lớp Mái) thường hay dùng nhất.
Nam Đảo (hay Đảo Ngũ Cung) : tôn nghiêm, hjùng tráng, gay gắt. Hai câu cuối được chuyển sang hơi Hò Ba âm điệu
buồn, để chấm dứt, gọi là "song cước".
Trong "Nghệ Thuật Sân Khấu Việt Nam" của ông Trần Văn Khải, nhà sách Khai Trí xuất bản năm 1970 tại Sài Gòn, có nhắc tới Nam Bình và Nam Chạy.
Nam Bình: còn gọi là Trường Tương Tư (trong Bát Ngự).
Nam Chạy: vừa ca vừa chạy, là hai lớp trống của Nam Ai, nhưng ca nhịp thúc để diễn tả lúc chạy giặc.

4. Tứ Oán
Gồm các bài:
Tứ Đại Oán : điệu nhạc thất vọng, bi thiết, oán hờn giống bài Văn Thiên Tường, nhưng hơi hướng có phần cổ và chơn chất hơn. Hai lớp Xang vắn thường hay được dùng.
Văn Thiên Tường: trần thuật, thổ lộ tâm tình, buồn ảo não. Có nhiều mức độ, khi buồn vừa vừa thì dùng lớp 1, khi buồn nhiều thì dùng lớp 2 (lớp Oán). Lớp Xế Xảng thật ngắn thường dùng để gối đầu vào Vọng Cổ.
Bình Sa Lạc Nhạn: hơi ngang và dựng.
Thanh Dạ Đề Quyên: cao hơn Bình Sa Lạc Nhạn.
Phụng Hoàng: như Tứ Đại Oán, nhưng hơi dựng hơn.
Giang Nam: trầm hơn Tứ Đại Oán, chậm rãi.
Phụng Cầu: như Phụng Hoàng.
Xuân Nữ: ngắn, có tính bi thiết, thường dùng trong cảnh bi ai, đau thưong đột xuất.
Mỗi bài Oán có sắc thái riêng biệt, nhưng khác biệt rõ nhứt là giữa hai bài Tứ Đại Oán và Văn Thiên Tường. Các bài Oán khác đều có những nét giống với bài Tứ Đại Oán hoặc Văn Thiên Tường. Hai bài này là tiêu biểu
cho loại Oán và được dùng nhiều trong cải lương.

5. Ngũ Điểm
Gồm sáu bài Bắc lớn, các bài này có điệu vui, ngắn, gọn.
Lưu Thủy Trường: điệu nhạc nhàn hạ, khoan thai, phù hợp với cảnh trí thanh nhàn, non xanh nước biếc, cỏ hoa chim chóc. Lưu Thủy Trường là do Lưu Thủy Đoản phát triển, kéo dài ra. Một câu của "đoản" bằng hai câu của "trường". Bài này có 4 lớp, 32 câu (8, 6, 12, 6).
Phú Lục: sôi nổi, rộn rả, khẩn trương, khác với bài Lưu Thủy Trường có tính thiên nhiên. Bài này có xuất xứ từ bài Phú Lục ở Huế. Khi mới vào Nam Bộ được cải lương hóa thành bài Phú Lục Vắn (17 câu, nhịp 1), sau phát triển thành bài Phúc Lục của nhạc tài tử (34
câu nhịp 4). Bài này rất nghiêm chỉnh cân đối, câu đối câu, nhịp đối nhịp, có 4 lớp (8, 8, 8, 10).
Xuân Tình: vui tươi, lúc bình thường khi rộn rã, âm điệu vang, trong sáng, nồng nhiệt. Bình Bán Chấn: phát triển từ bài Bình Bán, đến Bình Bán Vắn, rồi đến bài Bình Bán Chấn (dài). Gốc là bài
Bình Bán vui vẻ sảng khoái, nhưng khi phát triển thành Bình Bán Chấn thì trở thành đĩnh đạc, nghiêm trang. Bài này phức tạp, khúc mắc, ít được dùng trên sân khấu.
Tây Thi: êm dịu, trong sáng, vui tươi, có tính tự sự, không gay gắt như Phú Lục. Bản này là bản dễ nhớ nhứt trong sáu bài Bắc. Bài này có 26 câu, 3 lớp (9, 13, 4).
Cổ Bản: câu ngắn gọn, dồn dập, nhưng không nhấn mạnh như bài Phú Lục.

6. Lục Xuất
Điệu nhạc các bài này vui, ngắn, gọn. Gồm sáu bài:
Bình Bán Vắn
Tây Thi Vắn
Cổ Bản Vắn
Xuân Phong
Kim Tiền: được dùng như bài Mẫu Tầm Tử trong
trường hợp đối đáp, cãi nhau.
Long Hổ: thường đi cặp với bài Long Hổ Hội, có
tiết tấu đối chọi.

7. Thất Chinh
Gồm bảy bài:
Xàng Xê: hùng tráng uy nghi nhưng dịu dàng, êm ái.
Ngũ Đối Hạ: còn gọi tắt là bài Hạ, có tính uy nghi, nghiêm trang, man mác, thanh thản.
Long Đăng: giống bài Hạ, nhưng tiết tấu khỏe, ít nghiêm trang.
Long Ngâm: giống bài Hạ, ít thấy dùng trên sân khấu cải lương.
Ngũ Đối Thượng:
Vạn Giá
Tiểu Khúc
Các bài này là bảy bài lớn dùng trong nhạc lễ, mỗi khi cúng lễ, cúng tế, tính chất nghiêm trang. Riêng bài Ngũ Đối Hạ sân khấu hát bội thường dùng, trên sân khấu cải lương thì bài Xàng Xê được dùng nhiều hơn.

8. Bát Ngự
Gồm tám bài:
Đường Thái Tôn: êm, vui, phấn khởi, đắc chí.
Bát Man Tấn Cống: vui khỏe, để múa hát, chúc tụng.
Duyên Kỳ Ngộ: dùng trong cảnh tái ngộ, thăm hỏi, vui tươi nhộn nhịp. Tiết tấu nhanh, rộn rã vui tươi.
Kim Tiền Bản: tâm trạng giận dữ, mắng mỏ, hỏi tội, bày binh bố trận, điều binh khiển tướng.
Ngự Giá Đăng Lâu: khệ nệ, rườm rà, đắc chí vui tươi, kể lể dài dòng.
Ái Tử Kê: ngắn, giai điệu chững chạc, cân đối, trìu mến thương tiếc. Lời gốc của điệu này tả một bầy gà con bị chồn bắt.
Chiêu Quân: quạnh quẽ cô đơn, trầm lặng nhưng rất ảo não. Bài này thường đi cặp với bài Ái Tử Kê.
Trường Tương Tư: bài này nhẹ nhàng thư thái, thất vọng, nhớ nhung, ít thê lương hơn Nam Ai. Giới đờn hát tài tử thường đờn liên hoàn các bài Ái Tử Kê, qua Chiêu Quân, rồi đến Trường Tương Tư.

9. Cửu Nhĩ
Gồm hai bài:
Hội Nguyên Tiêu
Bát Bản Chấn
Hai bài này do nhóm tài tử miền Đông sáng tác, ít thấy dùng trên sân khấu cải lương.

10. Thập Thủ
Thập Thủ Liên Hườn còn gọi là Liên Bộ Thập Chương từ Huế đưa vào Nam, được cải lương hóa. Các bài này có điệu nhạc vui, ngắn gọn. Gồm mười bản Tàu, đã được Việt Nam hóa từ lâu, thường được đờn liên hoàn với nhau.
Phẩm Tuyết
Nguyên Tiêu
Hồ Quảng
Liên Hoàn
Bình Bản (Bình Nguyên)
Tây Mai
Kim Tiền Huế
Xuân Phong
Long Hổ
Tẩu Mã
http://www.fileden.com/files/2009/1/5/2253506/gioi%20thieu.mp3