PDA

View Full Version : Nguyễn Trãi


phunghoang12cn
26-02-2009, 04:25 PM
http://www.vietnamlit.org/wiki/images/c/c6/Nguyen_Trai.jpg
Chân dung Nguyễn Trãi


Nguyễn Trãi (chữ Hán: 阮廌), hiệu là Ức Trai (抑齋), 1380–1442, là đại thần nhà Hậu Lê, một nhà văn chữ Nôm. Ông được xem là một anh hùng dân tộc của Việt Nam, một danh nhân văn hóa thế giới.


Nguyễn Trãi sinh năm 1380 và thọ được 62 tuổi. Quê gốc của ông là làng Chi Ngại, huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương nhưng sinh ra ở Thăng Long trong dinh ông ngoại là quan Tư đồ Trần Nguyên Đán, về sau dời về sống ở làng Ngọc Ổi, xã Nhị Khê, huyện Thường Tín, tỉnh Hà Tây. Ông là con trai của Nguyễn Phi Khanh (trước đây có tên là Nguyễn Ứng Long), vốn là học trò nghèo thi đỗ thái học sinh và bà Trần Thị Thái - con quan Tư đồ Trần Nguyên Đán, dòng dõi quý tộc nhà Trần.

Vong thần nhà Hồ

Nguyễn Trãi sống trong thời đại đầy biến động dữ dội. Nhà Trần suy vong, Hồ Quý Ly lên thay, lập ra nhà Hồ, đổi tên nước là Đại Ngu.

Năm 1400, Nguyễn Trãi thi đỗ Thái học sinh. Cả Nguyễn Phi Khanh và làm quan cho nhà Hồ. Nhưng chẳng bao lâu sau (1407) quân Minh sang đánh nước Đại Ngu. Nhà Hồ thua trận, cha con Hồ Quý Ly cùng các triều thần bị bắt sang Trung Quốc, trong đó có Nguyễn Phi Khanh.

Tương truyền lúc ấy, Nguyễn Trãi muốn giữ tròn đạo hiếu, đã cùng em trai là Nguyễn Phi Hùng theo cha sang Trung Quốc. Nhưng đến ải Nam Quan, nghe lời cha dặn phải tìm cách rửa nhục cho đất nước, ông đã trở về và bị quân Minh bắt giữ ở Đông Quan.

Tướng văn trong khởi nghĩa Lam Sơn

Nguyễn Trãi bỏ trốn tìm theo Lê Lợi. Các tài liệu nói khác nhau về thời điểm Nguyễn Trãi tham gia khởi nghĩa. Có tài liệu nói ông tham gia từ đầu, có tài liệu nói đến năm 1420 hoặc 1423 ông mới theo Lê Lợi.

Theo gia phả họ Đinh kể về thân thế Đinh Liệt, một tướng Lam Sơn khác, có đề cập đến việc Nguyễn Trãi gia nhập quân Lam Sơn. Theo đó, mùa xuân năm Quý Mão (1423) Nguyễn Trãi lấy tên là Trần Văn, Trần Nguyên Hãn lấy tên là Trần Võ vào Lỗi Giang gia nhập nghĩa quân Lam Sơn trong khi Bình Định Vương lại cho Phạm Văn Xảo đi tìm Nguyễn Trãi ở Đông Quan. Vì không biết rõ lai lịch hai vị này, Nguyễn Như Lãm (cận thần của Lê Lợi) đã giao cho Trần Văn làm Ký lục quân lương, Trần Võ thì đi chở thuyền. Mãi đến khi Nguyễn Trãi dâng "Bình Ngô sách", Lê Lợi mới biết rõ hai người này và giữ lại bên mình để lo giúp việc. Tài liệu này có cơ sở vì các sử sách khi nói về giai đoạn đầu của khởi nghĩa Lam Sơn cũng không nhắc tới Nguyễn Trãi.

Nguyễn Trãi tham gia vào cuộc khởi nghĩa Lam Sơn do Lê Lợi lãnh đạo để lật đổ ách đô hộ của nhà Minh, trở thành quân sư đắc lực của Lê Lợi (vua Lê Thái Tổ sau này) trong việc bày tính mưu kế cũng như soạn thảo các văn bản trả lời quân Minh cho Lê Lợi.

Đặc biệt trong giai đoạn từ 1425, khi quân Lam Sơn trên đà thắng lợi, vây hãm nhiều thành trì của quân Minh, Nguyễn Trãi thường viết thư gửi cho tướng giặc trong thành để dụ hàng hoặc làm nản ý chí chiến đấu của tướng giặc.

Năm 1427, ông được liệt vào hàng Đại phu, coi sóc các việc chính trị và quản công việc ở Viện Khu mật. Quân Lam Sơn giải phóng vùng Bắc Bộ, đánh tan viện binh của Vương Thông. Thông rút vào cố thủ trong thành Đông Quan. Vua Minh sai Liễu Thăng và Mộc Thạnh chia làm 2 đường, cầm hơn 10 vạn quân sang cứu viện. Lúc đó quân Lam Sơn đứng trước hai chọn lựa vì sắp phải đối phó với địch bên ngoài vào và địch đánh ở trong thành ra. Lực lượng của Vương Thông hợp với quân Minh sang từ trước đã có khoảng 10 vạn người, quân Lam Sơn vây hãm có chút lơi lỏng đã bị địch ra đánh úp, phải trả giá cao bằng việc mất 3 tướng giỏi: Lê Triện, Đinh Lễ bị tử trận, Đỗ Bí và Nguyễn Xí bị bắt. Chỉ có Nguyễn Xí sau đó nhờ mưu trí và nhanh nhẹn đã trốn thoát về.

Số đông các tướng nóng lòng muốn hạ gấp thành Đông Quan để hết lực lượng làm nội ứng cho Liễu Thăng và Mộc Thạnh. Riêng Nguyễn Trãi không đồng tình với quan điểm đó. Ông kiến nghị với Lê Lợi ý kiến của mình và được chấp thuận. Và Lê Lợi đã theo kế của ông nói với các tướng rằng:

"Đánh Đông Quan là hạ sách. Nếu ta đánh thành kiên cố đó, phải mất mấy tháng hoặc hàng năm, chưa chắc đã hạ nổi, binh sĩ ta phải mệt mỏi chán nản. Đang khi đó, viện binh của địch kéo dến, thế là ta bị địch đánh cả đằng trước, đằng sau, đó là rất nguy. Chi bằng ta hãy nuôi sức khoẻ, chứa dũng khí chờ đánh viện binh. Khi viện binh đã bị phá, tất nhiên quân trong thành phải hàng, thế là ta chỉ khó nhọc một phen mà thu lợi gấp hai."

Diễn biến chiến sự sau đó quả như Nguyễn Trãi tiên đoán. Lê Lợi điều các tướng giỏi lên đánh chặn hai đạo viện binh, giết được Liễu Thăng, Mộc Thạnh bỏ chạy về nước. Vương Thông trong thành tuyệt vọng không còn cứu binh phải mở cửa thành ra hàng, cùng Lê Lợi thực hiện "hội thề Đông Quan", xin rút quân về nước và cam kết không sang xâm phạm nữa.

Bình Ngô Đại Cáo

Theo lệnh của Lê Lợi, Nguyễn Trãi thảo bài Bình Ngô đại cáo để bá cáo cho thiên hạ biết về việc đánh giặc Minh, được coi là bản tuyên ngôn độc lập thứ hai của Việt Nam (sau bài thơ Nam quốc sơn hà).

Công thần bị tội

Bị vạ với người trong họ

Năm 1428, Lê Lợi lên ngôi, phong ông tước Quan Phục hầu và cho theo họ Lê của vua.

Sau thắng lợi 1 năm, đầu năm 1429, Lê Lợi nghi ngờ Trần Nguyên Hãn, một tướng giỏi vốn là dòng dõi nhà Trần định mưu phản, nên sai người đi bắt hỏi tội. Trần Nguyên Hãn nhảy xuống sông tự vẫn. Vì Nguyên Hãn là anh em họ của Nguyễn Trãi nên ông cũng bị bắt giam vì nghi ngờ có liên quan tới tội mưu phản. Sau đó vì không có chứng cứ buộc tội, vua Lê lại thả ông ra. Tuy nhiên cũng từ đó ông không còn được trọng dụng như trước nữa.

Thực chất, cuộc thanh trừng công thần của Lê Thái Tổ có động cơ từ việc muốn thiên hạ hết mong nhớ nhà Trần; đồng thời cũng là cuộc tranh chấp quyền lực thời bình giữa các tướng có xuất thân họ hàng hoặc cùng quê với vua Lê - do Lê Sát đứng đầu - và các tướng xuất thân vùng khác, tiêu biểu là Trần Nguyên Hãn và Phạm Văn Xảo. Hơn nữa đó lại còn là cuộc tranh chấp ngôi thái tử giữa con cả của vua là Lê Tư Tề (người từng tham gia khởi nghĩa Lam Sơn và được Nguyên Hãn ủng hộ) với con thứ Lê Nguyên Long (được Lê Sát ủng hộ).

Bị oan khuất, sau khi ra khỏi ngục, ông làm bài Oan thán bày tỏ nỗi bi phẫn, trong đó có câu:

Hư danh thực hoạ thù kham tiếu,
Chúng báng cô trung tuyệt khả liên.

Dịch:

Danh hư thực họa nên cười quá,
Bao kẻ dèm pha xót người trung

Vụ án Lệ Chi Viên

Năm 1433, Thái Tổ mất, thái tử Nguyên Long lên nối ngôi, tức là Lê Thái Tông. Những năm đầu, Tư đồ Lê Sát làm phụ chính điều hành triều chính. Nguyễn Trãi tham gia giúp vua mới. Nhân bàn về soạn lễ nhạc, Nguyễn Trãi khuyên nhà vua:

"Nguyện xin bệ hạ yêu thương và nuôi dưỡng dân chúng để nơi thôn cùng xóm vắng không có tiếng oán hận sầu than".

Năm 1435, ông soạn sách Dư địa chí để vua xem nhằm nâng cao sự hiểu biết, niềm tự hào và ý thức trách nhiệm của nhà vua đối với non sông đất nước.

Bị các quyền thần đứng đầu là Lê Sát chèn ép, Nguyễn Trãi cáo quan về ở ẩn tại Côn Sơn, Chí Linh, thuộc tỉnh Hải Dương ngày nay.

Tuy nhiên, trái với dự tính của Lê Sát, Thái Tông còn ít tuổi nhưng không dễ trở thành vua bù nhìn để Sát khống chế mãi. Năm 1437, nhà vua anh minh nhanh chóng chấn chỉnh triều đình, cách chức và giết các quyền thần Lê Sát, Lê Ngân; các lương thần được trọng dụng trở lại, trong đó có Nguyễn Trãi. Lúc đó ông đã gần 60 tuổi, lại đảm nhiệm chức vụ cũ, kiêm thêm chức Hàn lâm viện Thừa chỉ và trông coi việc quân dân hai đạo Đông, Bắc (cả nước chia làm 5 đạo). Thời gian phò vua Thái Tông, Nguyễn Trãi tiếp tục phát huy được tài năng của ông. Tuy nhiên khi triều chính khá yên ổn thì cung đình lại xảy ra tranh chấp.

Vua Thái Tông ham sắc, có nhiều vợ, chỉ trong 2 năm sinh liền 4 hoàng tử. Các bà vợ tranh chấp ngôi thái tử cho con mình nên trong triều xảy ra xung đột. Vua truất hoàng hậu Dương Thị Bí và ngôi thứ tử của con bà là Lê Nghi Dân lên 2 tuổi, lập Nguyễn Thị Anh làm hoàng hậu và cho con của bà này là Lê Bang Cơ chưa đầy 1 tuổi làm thái tử. Cùng lúc đó một bà vợ khác của vua là Ngô Thị Ngọc Dao lại sắp sinh, hoàng hậu Nguyễn Thị Anh sợ đến lượt mẹ con mình bị phế nên tìm cách hại bà Ngọc Dao. Nguyễn Trãi cùng một người vợ thứ là Nguyễn Thị Lộ tìm cách cứu bà Ngọc Dao đem nuôi giấu, sau bà sinh được hoàng tử Tư Thành (tức vua Lê Thánh Tông sau này).

Tháng 7 năm 1442, vua Lê Thái Tông về qua nhà Nguyễn Trãi tại Côn Sơn (Chí Linh, Hải Dương ngày nay), vợ Nguyễn Trãi là bà Nguyễn Thị Lộ theo hầu vua. Trên đường về kinh Vua đột ngột qua đời tại vườn hoa Lệ Chi Viên nay thuộc Gia Bình, Bắc Ninh. Nguyễn Trãi bị triều đình do hoàng hậu Nguyễn Thị Anh cầm đầu khép tội giết vua và bị giết cả 3 họ (tru di tam tộc) ngày 16 tháng 8 năm 1442. "Tru di tam tộc" là giết người trong họ của người bị tội, họ bên vợ và họ bên mẹ của người đó. Theo gia phả họ Nguyễn, ngoài những người họ Nguyễn cùng họ với ông, còn có những người họ Trần cùng họ với bà Trần Thị Thái mẹ ông, người trong họ bà Nhữ thị vợ thứ của Nguyễn Phi Khanh, những người trong họ của các bà vợ Nguyễn Trãi (kể cả vợ lẽ), tất cả đều bị xử tử.

Thái tử Bang Cơ mới 1 tuổi, con trai Nguyễn Thị Anh được lập làm vua, tức là Lê Nhân Tông

Gia quyến lưu tán

Theo gia phả họ Nguyễn, Nguyễn Trãi có năm người vợ:

* Bà họ Trần: Sinh ra Nguyễn Khuê, Nguyễn Ứng, Nguyễn Phù.
* Bà họ Phùng: Sinh ra Thị Trà, Nguyễn Bảng, Nguyễn Tích.
* Bà Thị Lộ: Không có con.
* Bà Phạm Thị Mẫn: Sinh ra Nguyễn Anh Vũ (sau vụ án Lệ Chi Viên)
* Bà họ Lê: Sinh ra con cháu ở chi Quế Lĩnh, Phương Quất - huyện Kim Môn, Hải Dương.

Sau vụ án Lệ Chi Viên, dòng họ Nguyễn Trãi ở Chi Ngại, Nhị Khê gần như bị thảm sát hết. Trong các phả hệ ghi lại số ít thoát nạn là:

* Nguyễn Phi Hùng, em thứ ba của Nguyễn Trãi chạy về Phù Khê, Từ Sơn, Bắc Ninh;
* Nguyễn Phù con Nguyễn Trãi chạy lên Cao Bằng, đổi họ sang họ Bế Nguyễn.
* Bà họ Lê vợ thứ năm của Nguyễn Trãi mang thai chạy về Phương Quất, huyện Kim Môn, Hải Dương.
* Bà Phạm Thị Mẫn vợ thứ tư của Nguyễn Trãi có mang ba tháng, được người học trò cũ của Nguyễn Trãi là Lê Đạt đưa bà chạy trốn vào xứ Bồn Man (phía Tây Thanh Hóa); sau lại về thôn Dự Quần, huyện Ngọc Sơn, phủ Tĩnh Gia, Thanh Hóa. Tại đây, bà sinh ra Nguyễn Anh Vũ. Để tránh sự truy sát của triều đình, Nguyễn Anh Vũ đổi sang họ mẹ là Phạm Anh Vũ.

Được minh oan

Theo một số nghiên cứu gần đây, thủ phạm gây ra cái chết của vua Thái Tông chính là hoàng hậu Nguyễn Thị Anh và bà đã đổ tội cho Nguyễn Trãi.

Tuy nhiên, ngay đương thời đã có nhiều người biết việc oan khuất của Nguyễn Trãi. Hơn 10 năm sau, mẹ con vua Nhân Tông bị người con cả Thái Tông là Nghi Dân giết chết để giành lại ngôi vua. Nhưng rồi Nghi Dân nhanh chóng bị lật đổ. Người con thứ của Thái Tông là Khắc Xương từ chối ngôi báu nên người con út là Tư Thành được vợ chồng Nguyễn Trãi cứu thoát trước kia, nay được Nguyễn Xí rước lên ngôi, tức là Lê Thánh Tông.

Năm 1464, Lê Thánh Tông xuống chiếu giải oan cho Nguyễn Trãi. Con cháu ông được tìm lại và bổ dụng. Người con út sinh ra sau khi ông qua đời là Nguyễn Anh Vũ được Lê Thánh Tông phong cho chức Đồng Tri Phủ huyện Tĩnh Gia (Thanh Hóa), cấp cho 100 mẫu ruộng gọi là "Miễn hoàn điền" (ruộng không phải trả lại) con cháu đời đời được hưởng. Nguyễn Anh Vũ xây dựng mộ chí của Nguyễn Trãi tại xứ đồng Tai Hà, làng Dự Quần, lấy sọ dừa, cành dâu táng làm cốt; lấy ngày mất của Nguyễn Trãi - 16 tháng 8 là ngày giỗ họ

Minh oan cho Nguyễn Trãi, vua Thánh Tông ca ngợi ông: "Ức Trai tâm thượng quang Khuê tảo" (tấm lòng Ức Trai sáng như sao Khuê). Năm 1467, vua Thánh Tông ra lệnh sưu tầm di cảo thơ văn Nguyễn Trãi.

Dù vậy, các nhà nghiên cứu vẫn băn khoăn chưa rõ vì sao một vị vua được coi là anh minh và quyết đoán như Lê Thánh Tông, đã minh oan cho Nguyễn Trãi, một đại công thần sáng lập vương triều Lê, người đã cùng với vợ là Nguyễn Thị Lộ ra sức che chở cho mẹ con nhà vua lúc gian nan, mà chỉ truy tặng tước bá, thấp hơn cả tước hầu vốn được Lê Thái Tổ ban phong khi ông còn sống. Các công thần khác của nhà Hậu Lê thường được các vua đời sau truy tặng tước cao hơn, như công và sau nữa lên vương.

Năm 1980 nhân kỷ niệm 600 năm ngày sinh của Nguyễn Trãi, UNESCO đã công nhận ông là danh nhân văn hóa thế giới.

Khúc Hận Nam Quan
http://www.fileden.com/files/2009/1/5/2253506/khuc%20han.mp3

thuyduclong
05-08-2009, 12:35 PM
Nguyễn Thị Lộ và kỳ án Lệ Chi Viên
“ Đám phạm nhân bao gồm tòan bộ gia đình Nguyễn Trãi, các anh em trai người là Bảo,Lý, Phi, Hùng các anh em họ người, các con trai người là Khuê, Ứng, Phù và các cháu người. Tất cả mọi người Miêu Duệ Nam giới tựu trung gồm bốn muơi người thuộc đủ lứa tuổi, trong đó có 6 đứa trẻ…Thị Lộ đi cuối hàng tử tội, mái tóc mây xõa dài trong chiếc áo dài đẫm máu, nàng khác nào cánh hoa tả tơi”..
Khung cảnh bi thảm trên đây là đoạn kết buồn cho câu chuyện về một phu nhân tài sắc vẹn tòan và là vị khai quốc công thần bậc nhất triều Lê, cũng là mở đầu cho một kỳ án hiếm gặp trong lịch sử phong kiến Việt Nam.
1.Nguyễn Thị Lộ là ai?
Nguyễn Thị Lộ sinh năm 1400 tại làng Hải Hồ, một làng có nghề dệt chiếu nổi tiếng, nay được gọi là làng Hải Triều, Xã Tân Lể, Huyện Hưng Hà, Tỉnh Thái Bình. Bà trưởng thành trong một gia đình nhà nông, làm ruộng và dệt chiếu nhưng khá giả, cha là ông Nguyễn Mỗ.từ nhỏ bà đã đuợc cha mẹ cho học các sách kinh thư, y dược rồi truyền cho nghề dệt chiếu và bốc thuốc. bà nổi tiếng là người đẹp nhất vùng và có biệt tài thơ phú. Sau khi cha chết, bà cùng mẹ tần tảo nuôi dạy các em, phỉa dệt chiếu và đem đi bán. Trong một lần lên Kinh Thành bán chiếu, bà đã gặp Nguyễn Trãi, rồi trở thành bạn đời của ông. Bà không chỉ là nhà giáo , nhà thơ mà bà còn là người phụ nữ đầu tiên giữ chức vụ Lể nghi hcọ sĩ trong thời vua Lê Thái Tông và được nhà vua rất mực yêu quý vì tài.Bà là nhân vật chủ chốt trong vụ kỳ án Lệ Chi Viên và bị giết cùng gia quyến năm 1442 trong kỳ án này.
2.Đêm vận mệnh của một vị vua hay xà tinh báo thù?
Sử sách đã chép lại sự kiện Lệ Chi Viên một cách ngắn gọn như sau:
Ngày 27/07/1442, vua Lê Thái Tông đi tuần ở Miền Đông, duyệt quan ở thành Chí Linh, Hải Dương. Nguyễn Trải đón vua ngụ ở chùa Côn Sơn là nơi ở của Nguyễn Trãi. Ngày 04/08, vua về đến Lệ Chi Viên thuộc huyện Gia Định ( nay thuộc xã Thái Bảo, huyện Gia Bình, Bắc Ninh). Cùng đi với Vua là Nguyễn Thị Lộ, một người thiếp của Nguyễn Trãi khi ấy đã vào tuổi 40 được vua Lê Thái Tông yêu quý vì sắc đẹp, văn chương hay. Khi về đến Lệ Chi Viên, vua thức suốt đêm với Nguyễn Thị Lộ rồi băng hà, lúc này ông mới 20 tuổi. Các quan bí mật đưa về, ngày 6/8 mới tới Kinh Sư, nửa đêm vào đến cung mới phát tang.
Triều đình đã quy cho Nguyễn Thị Lộ tội giết vua. Nguyễn Trãi và gia đình bị án tru di tam tộc.
Nhưng có lẽ nào Thị Lộ giết vua để hại chết cả gia đình họ tộc của nàng và Nguyễn Trãi chồng nàng? Dân gian đồn rằng… Một hôm Nguyễn Trãi dự định cho học trò dọn vườn để lập lớp học, lúc ngũ ông nằm mơ có người đến xin hãy dọn vườn chậm lại để kịp chuyển nhà đi chổ khác. Nhưng khi ông thức dậy, học trò đã dọn xong vườn và đánh chết một ổ rắn, rắn mẹ chạy kịp nhưng bị chặt cụt mất một đoạn đuôi.Vài hôm sau, trong lúc ông đang đọc sách thì nghe có tiếng phì phì, ngước nhìn lên thì thấy có một con rắn nằm vắt ngang trên sàn nhà và nhỏ xuống giọt máu trúng vào chữ Đại.Giọt máu thấm qua 3 trang giấy… Dân gian cho rằng đó là con rắn mẹ báo trước sẽ báo thù Nguyễn Trãi vướng phải án tru di tam tộc và Thị Lộ chính là con rắn đầu thai kiếp người để báo oán cả họ tộc Nguyễn Trãi.
3.Bức tranh lịch sử thời hậu Lê và những giả thuyết của kỳ án.
Giở lại trang sử đầu triều Hậu Lê, người ta thấy một khung cảnh bất ổn. Khởi nghĩa Lam Sơn thành công. Lê Lợi lên ngôi vua lấy hiệu Thái Tổ nhưng trị vì vài năm rồi mất. Nguyên Long lên nối ngôi khi tuổi còn nhỏ. Bức tranh thật ảm đạm với cảnh các thế lực tranh giành ngôi vị, quan lại kết bè, kéo cánh, một số công thần bị giết chết, Nguyễn Trãi cáo quan về Côn Đảo cùng tâm sự mang đầy ẩn ức. Sau đó vì sự phát triển của đất nước ông trở lại tham gia chính trường. Thị Lộ vợ ông cũng được Thái Tông cất nhắc vào chức Lễ nghi học sĩ trong triều. Nhưng cách hành xử của Nguyễn Trãi dựa trên nền tảng “Lấy đại nghĩa để thắng hung tàn” đã không còn được long những người “đồng chí” một thời vào sinh ra tử.
Nghi án giết vua Lê Thái Tông lúc này còn nhiều người đặt nặng về phía bà phi Nguyễn Thị Anh, mẹ Thái tử Bang Cơ tức Vua Nhân Tông sau này. Vua Thái Thái Tông có đến 3 Hoàng Tử, Bang Cơ chỉ là con trai thứ 3 và bị đồn đại rằng không phải là con Thái Tông. Bà phi Ngô Thị Ngọc Dao lúc đó đang mang thai chuẩn bị sinh quý tử. Để loại bỏ một địch thù, Nguyễn Thị Anh không ngần ngại dùng biện pháp tàn bạo là ám hại. Âm mưu trên không thành bởi Nguỵễn Trãi và Nguyễn Thị Lộ đã ra tay ngăn chặn kịp thời. Bà phi họ Nguyễn sinh long đố kỵ và ráp tâm trả thù. Nhân lúc vua Thái Tông đi tuần ở Miền Đông ghé qua nhà Nguyễn Trãi, lại có vợ Nguyễn Trãi theo hầu là cơ hội thuận tiện để bà Phi tàn ác thực hiện âm mưu “ Một mũi tên trúng hai đích”vừa loại trừ được kẻ thù vừa giành ngôi cho con trai mình.
Khi âm mưu đen tối được thực hiện một cách hòan hảo thì Nguyễn Thị Lộ đã bị kết tội giết vua và Nguyễn Trãi bị buộc tội là kẻ chủ mưu và gánh lấy cái án tru di tam tộc, giết cả 3 đời gồm họ cha, họ mẹ và họ vợ. Vụ án nhanh chóng được tuyên, tội nhân đã được xử xong nhưng nghi vấn đọng lại làm đau đầu biết bao nhiêu thế hệ loài người
Câu hỏi đầu tiên được đặt ra “ Lê Thái Tông lúc đó chừng 20 tuổi, đang trong độ sung sức nhất tại sao chết bất đắc kỳ tử? Sách Việt sử giai thoại cho rằng “ Sau nhiều tuần du mệt mõi , vua lại thức suốt đêm với một người phụ nữ bên bờ song, nếu sốt rét không giết chết vua, ắt cũng chẳng thiếu nguyên nhân giết chết vua”. Sách việt sử toàn thư cũng chung nhận xét “ Sự thật vua Thái Tông mất chỉ vì trải qua một đêm tửu sắc thái quá rồi cảm nhiễm sương gió”. Nhiều nhà nghiên cứu lại cho rằng sương gió không phải là thủ phạm quật ngã người thanh niên độ tuổi trai trẻ khỏe mạnh như Nguyễn Long, như vậy có nghĩ là vị vua thứ 2 của Triểu Lê bị sát hại. Không biết đây là cái chết của vua bị bưng bít ngay từ đầu và cả nhiều năm sau này nữa.
Ta hãy thử đặt them một câu hỏi nữa trong tình huống này. Ai ra tay giết chết Lê Thái Tông và kẻ ấy ra tay như thế nào? Chính sử triều Lê kết tội Nguyễn Thị Lộ với lời bàn “ Nữ sắc làm hại người ta quá lắm. Thị Lộ chỉ là một người đàn bà thôi, Tông yêu nó mà than phải chết, Nguyễn Trãi lấy nó mà cả họ bị diệt, không đề phòng mà được ư?. Nhưng những người có quan điểm kết tội Nguyễn Thị Lộ lại hoàn tòan không để cập đến nàng giết vua như thế nào, bằng gươm giáo, gậy gộc hay bất cứ thứ vũ khí nào khác. Họ cho rằng nhà vua bị đầu độc.
Vu Lê Thánh Tông sau khi nối ngôi, tra xét lại vụ án đã ban chiếu tẩy oan cho Nguyễn Trãi vào năm 1464. Nhưng xét kỹ nội dung chiếu tẩy oan có ghi tên Nguyễn Trãi chỉ với tước bá thấp hơn cả tước hầu vốn phong khi Nguyễn Trãi còn sống. trong chiếu chỉ lại tuyệt nhiên không thấy truy lại xem ai đã sát hại Thái Tông và cũng không minh oan cho Nguyễn Thị Lộ. ta ngầm hiểu ý rằng Thị Lộ bị đánh giá có một phầb tội làm vua băng hà dù bị động hay chủ động? và Nguyễn Trãi chồng nàng dẫu được kính trọng vô cùng cũng không thể hoàn toàn vô can.
4.Có hay không lời kết cho kỳ án?
Cho đến nay những câu hỏi người đời nêu ra cùng những giả thuyết cẫn chưa được coi là một câu trả lời đầy đủ. Giả thuyết vẫn mãi là giả thuyết và như thế thì không tránh khỏi những phỏng đoán sai lầm áp đặt. Bởi những tư liệu để lại quá ít ỏi và vụ án còn bị chính sử che đậy một cách có dụng ý cộng với sự im lặng trong khoảng thời gain hàng trăm năm là nguyên nhân khó tìm ra đủ chứng cứ để phá vụ án bí hiểm này. Đây là một kỳ án đầy éo le bi đát không chỉ ở nước ta mà bồn phương cũng ít gặp, nó liên quan đến 3 nhân vật quan trọng cả về phương diện chính trị lẫn tình ái: Một vị minh quân, một công thần tài đức trọng, và một phụ nữ tài hoa, sắc sảo. Tuy nhiên chúng ta hãy tin rằng: Thời gian rất công bằng, nó sẽ trả lại những gì chân thật nhất của lịch sử và giải đáp tất cả những bí án trong vụ kỳ án này.

phunghoang12cn
05-08-2009, 09:18 PM
cảm ơn bạn, đã bổ sung thêm cho bài viết thêm đầy đủ

phunghoang12cn
05-08-2009, 09:51 PM
hình như thiếu rồi đó bạn, còn có phunghoang12cn nữa chớ, chủ đề này có 2 người pót bài lận mờ :thingking:

thuyduclong
06-08-2009, 08:55 AM
các bạn muốn biết những sự kiện lcịh sử thì ghé thăm blog của mình. có đầy đủ lém

http://vn.myblog.yahoo.com/thuyduclong