PDA

View Full Version : Tứ Đại Oán


phunghoang12cn
27-05-2009, 03:50 PM
Từ khá lâu, trên sân khấu Cải lương, kể cả cải lương truyền hình, video, audio, dường như bản nhạc Tứ Đại Oán đã vắng bóng (?). Là một thể điệu xem như trụ cột nhất trong nhóm "oán" (chánh oán và oán biến thể) và là một bản nhạc cổ điển trong dòng nhạc tài tử - cải lương Nam Bộ. Thế nhưng, phong trào đờn ca tài tử vẫn còn duy trì và phát huy, còn Cải lương từ sau 1975 đến nay hiếm thấy...

BẢN NHẠC CỦA BUỔI BÌNH MINH
Trong 20 bài bản Tổ của nhạc tài tử Nam Bộ thì bản Tứ Đại Oán đứng đầu trong 4 bài oán (nhóm Oán). Cũng có nghĩa "Tứ đại oán" là 4 bài oán lớn mà bài Tứ Đại được xem là lớn chủ lực trong nhóm 4 bài (Tứ Đại, Phụng Hoàng, Giang Nam, Phụng Cầu). Tính năng trong âm nhạc, Tứ Đại diễn tả những tình huống bi và trạng thái các nhân vật bị hụt hẫng, uất nghẹn trong niềm đau nỗi sầu.
Vì sao gọi là bản nhạc cổ điển ?

Trong dòng âm nhạc tài tử Nam Bộ có hơn 100 bài bản. Tuy nhiên, niên đại ra đời và nguồn gốc khác nhau, không thể xác định bài bản nào ra đời trước hoặc sau. Nhưng ở lĩnh vực sân khấu cải lương thì có thể khẳng định rằng, bản nhạc Tứ Đại Oán là cổ điển nhất (lớp đầu). Bởi lẽ, nó là bài có mặt đầu tiên trong hình thức ca ra bộ, mà ca ra bộ là gạch nối giữa phong trào đờn ca tài tử phát triển để hình thành sân khấu cải lương.

Cụ Trương Duy Toản, còn có bút danh là Mạnh Tử (1885 - 1957) là soạn giả lớp ca ra bộ đầu tiên "Bùi Kiệm đi thi" và kịch bản cải lương đầu tiên "Kim Vân Kiều" trong lịch sử sân khấu cải lương. Vào khoảng năm 1910, ban tài tử của ông Nguyễn Tống Triều (Tư Triều) ở Mỹ Tho được mời sang Pháp biểu diễn trong dịp Hội chợ đấu xảo thuộc địa tại Paris. Các thành viên gồm : Tư Triều đờn kìm, Chín Hoán đờn độc huyền, Bảy Vô đờn cò, Mười Lý thổi tiêu, cô Hai Nhiễu đờn tranh và cô Ba Đắc ca... trong đó có lớp Tứ Đại Oán "Bùi Kiệm đi thi", nhưng lúc đó chỉ có ngồi ca, chưa có ra bộ.Sau đó ông Tống Hữu Định cùng với bạn tri âm khác sáng chế hình thức ca ra bộ ở Vĩnh Long, cũng từ lớp Tứ Đại Oán "Bùi Kiệm", vào khoảng 1914-1915. Kế đó là thầy Năm Tú ở Mỹ Tho (Pierre Châu Văn Tú) phát triển thêm một bước, đưa lớp ca ra bộ này lên sân khấu trình diễn, ca có điệu bộ để minh họa. Từ hình thức này, đến năm 1918, thầy Năm Tú đã sáng lập ra sân khấu cải lương đầu tiên tại đất Mỹ Tho.

BÙI KIỆM ĐI THI
(Tứ Đại Oán lớp I)
"Kiệm từ khi thi rớt trở về
Bùi Ông mắng nhiếc nhún trề
Trách quá chàng ham bề vui chơi
Kiệm thưa :Tài bất thắng thời
Con lẽ nào không lo bề công danh
Tuổi con còn xuân xanh
Ơn cha mẹ, con chưa đáp đền, đó cha ơi..."
(Tác giả : Trương Duy Toản)

GIỌNG "VÀNG" VỚI LỚP TỨ ĐẠI
Từ khi phong trào đờn ca tài tử xuất hiện, bản Tứ Đại Oán luôn thịnh hành trong các cuộc trình tấu : Đơn ca (solo), hòa ca (ca ra bộ), hòa tấu, độc tấu... từ xa xưa cho đến hôm nay. Như thế, trong đờn ca tài tử thì bản Tứ Đại Oán không hẳn là cổ điển, mà nó chỉ xem là bản chính thống trong Tứ Oán. Riêng ở cải lương thì được xem là bản nhạc cổ điển, vì khi sân khấu cải lương ra đời thì bản Tứ Đại Oán xuất hiện cùng một lúc. Sau đó, một vài tác giả là thầy đờn còn quan tâm ứng dụng (trước 1975), càng về sau thì nó càng mờ nhạt ở lĩnh vực cải lương. Có thể nói, vào thời kì "cổ đại" của tài tử cải lương thì có lớp Tứ đại "Bùi Kiệm..." của cụ Trương Duy Toản, vào thời "cận đại". trong vở "Lan và Điệp" của cố soạn giả Loan Thảo là tiêu biểu, được lưu truyền trong giới cho đến thời đương đại. Người sáng tác hay : ca từ đẹp, chuẩn nhạc, ý tưởng cảm xúc, dễ ca... còn phải đòi hỏi giọng ca hay nữa. Lớp Tứ Đại Oán trong "Lan và Điệp" do NSƯT Thanh Kim Huệ ca (vai Lan) đã trở thành bản khuôn mẫu của cải lương và rất nhiều tài tử, nghệ sĩ cũng ca lớp ấy vẫn chưa thấy ai đạt đến đỉnh điểm như NSƯT Thanh Kim Huệ.

Vào đầu thập niên 70, ngoài trên sân khấu cải lương Sài Gòn, vở cải lương "Lan và Điệp" được nổi tiếng qua băng cassette, kể từ đó lớp Tứ Đại Oán đi vào lòng giới mộ điệu. Đó là lớp cao trào ở cảnh cuối, lúc Lan (NSƯT Thanh Kim Huệ) đã vào chùa quy y để trốn chạy một cuộc tình trái ngang nghiệt ngã.Lan muốn chôn vùi mối tình ấy qua "mõ sớm chuông chiều", nhưng muốn quên mà càng thêm nhớ, nên ni cô Lan phải bệnh tương tư...Trước khi Lan trút hơi thở cuối cùng, Điệp (NS Chí Tâm) vẫn còn đến kịp để nhìn Lan trong nỗi tuyệt tình. Và Lan đã thổ lộ tình cảnh quy y của mình trước khi giã biệt cõi đời, mà Lan không ngờ rằng Điệp trong lớp áo "sư phụ" để được vào hậu liêu thăm Lan lần cuối - qua lớp Tứ Đại Oán đầy kịch tính và đẫm ướt lệ sầu bi.

NSƯT Thanh Kim Huệ ca lớp Tứ đại này một cách xuất sắc, đã làm rung động lòng người, không chỉ những ngôn từ đầy cảm xúc, mà chị Huệ đã buông hơi một cách dịu dàng, làm mềm lòng người nghe. Đặc biệt là kĩ thuật luyến láy, nhấn trọng âm "phạn" ở câu 2 (...mõ sớm với chuông chiều..." và câu 3 "...Từ lâu rồi..." trong âm rơi ở âm cuối khuôn dấu huyền "chiều" và "rồi", nhưng ở câu 5, trọng âm rơi vào dấu nặng "...mà tha thứ tội..." đều là chữ "phạn". Chị Huệ lại có cách luyến khác nhau, ngân với âm lượng vừa phải nghe rất não lòng...Nôm na là nghệ sĩ đã nhập vai, nhờ bài ca hay và người ca hay. Nói cách khác, NSƯT Thanh Kim Huệ lúc đó đã hoàn toàn hóa thân vào nhân vật (Lan), sống hết mình với vai diễn và sự đồng cảm giữa lời ca (ca từ) với diễn viên (nhân vật) đạt đến tiêu điểm. Có lẽ, Lan là một trong những vai tiêu biểu của NSƯT Thanh Kim Huệ trước 1975, lớp Tứ Đại Oán là lớp hay nhất trong vở "Lan và Điệp".

TỨ ĐẠI OÁN (Lớp I - trích trong "Lan và Điệp")
"Thầy ơi ! Con biết phận mình đức bạc, nơi chốn niết bàn thì thăm thẳm mù xa, mà đường địa ngục thì thênh thang mở rộng. Con đã phạm giới cấm môn quy mang điều giọng ngữ, con không phải là Vũ Khắc Điệp, mà tên thật của con là Nguyễn Thị...
1/ ...Lan.
Vì đứt đoạn mảnh tơ lòng
2/Tìm vào đây, vui mõ sỡm với chuông chiều
Mong lãng quên nỗi khổ sầu của mối tình ly tan
3/Tình đã xa, tơ đã đứt tự lâu rồi
Nhưng bóng trăng bao lượt khuyết đầy mà lòng sầu vẫn chưa nguôi
4/Nay con không còn sống được bao lâu
Nên khúc nôi xin bày tỏ cùng thầy
5/Xin thầy, cảm thương cho kẻ nặng sầu đau
Mà ban cho lời tha thứ tội
6/Ở nơi xa, người xưa có hiểu cho lòng
Anh Điệp ! Anh có hiểu nỗi khổ đau đang quàng nặng ở lòng Lan".
(Tác giả : Loan Thảo)

Theo NSƯT nhạc sĩ Ba Tu cũng như một số nhạc sĩ già dặn khác, bản Tứ Đại Oán có âm sắc lạ hơn những bản khác, người đờn cả người ca phải nắm vững căn cơ thì mới chuẩn và ra được hơi oán, còn không sẽ ngược lại. Đặc biệt, bản Tứ Đại Oán thường phù hợp với giọng nữ, nên khi sáng tác lời ca, tác giả phải viết cho giọng chánh là nữ vô trước, giọng nam ca phụ đan xen mà thôi. Nếu ngược lại thì nam sẽ không thể chinh phục được người nghe bằng hơi oán được, cụ thể là ở các cuộc thi giọng ca cải lương nhiều năm qua, ca các bản Oán, hầu hết là nữ vượt trội, còn một số tác giả viết kịch bản cải lương lại cho rằng, họ đủ khả năng để viết lời cho Tứ Đại Oán (lớp I), nhưng hầu hết các diễn viên ca lớp này rất vất vả và khó tạo được ấn tượng, mà bài bản trong hệ thống âm nhạc cải lương là mênh mông nên "tội" gì phải chọn cái khó ? Đây là cái lý mang tính thụ động, làm cho sân khấu cải lương mờ nhạt dần bản Tứ Đại Oán, mà ngay từ thời "cổ đại" và "cận đại" tiền nhân ta đã tạo một thời huy hoàng của bản Tứ Đại Oán... Ngày nay, ngoài giới tài tử, trên sân khấu cải lương không thiếu gì những giọng oán đẹp như : Mỹ Hằng, Tâm Tâm, Thy Trang, Lê Hồng Thắm (TP HCM), Quế Anh (Đồng Nai), Ngọc Trinh (Long An), Lịch Sử (Cà Mau), Hải Yến (Đồng Tháp), Nhơn Hậu (Tiền Giang), Tuyết Ngân (Bến Tre)... Thiết nghĩ, sân khấu cải lương cần nên khai thác lại bản cổ điển này, vì chất "oán" là một trong những hạt nhân của âm nhạc cải lương và người khai thác không ai khác hơn là soạn giả.
Đỗ Dũng (Theo Tuần báo Sân khấu TP HCM)
Bài Tứ Đại Oán (Nhạc Sĩ Văn Vĩ đờn ghi ta, Nhạc Sĩ 9 Trích Đờn Cò, Nhạc Sĩ 7 Bá Đờn Tranh. hòa tấu bài Tứ Đại oán, đờn từ Lớp Xang Vắng qua Lớp Hồi Thủ đến Lớp Dứt.)

http://www.fileden.com/files/2009/1/5/2253506/Tu%20Dai%20Oan%20%28%20Xang%20Van%20-%20Hoi%20Thu%20-%20Dut%29%20Nam%20Co%20-%20Bay%20Ba%20-%20Chin%20Trich.mp3